Các tật khúc xạ Tìm hiểu về cận thị
Tìm hiểu về cận thị In Email
Viết bởi Administrator   
Thứ năm, 24 Tháng 5 2012 16:13
alt
Cận thị thường được gọi là “tật nhìn gần”, do người cận thị có thị lực gần tốt hơn thị lực xa ở bất kỳ lứa tuổi nào. Những người cận thị thường kêu nhìn xa mờ, hoặc nói họ không nhận biết được mọi người ở khoảng cách xa, họ hay nheo mắt lại khi nhìn xa.
Định nghĩa cận thị: Cận thị là khi tia sáng từ một vật ở xa hội tụ ở trước võng mạc một mắt ở trạng thái nghỉ ngơi, không đeo kính.
Cận thị có thể do:
-         Trục nhãn cầu dài hơn bình thường (Cận thị do trục).
-         Giác mạc hoặc thủy tinh thể vồng quá, do đó tăng công suất hội tụ (cận thị do khúc xạ).
 
       Tuổi xuất hiện cận thị:
·        Một tỉ lệ nhỏ trẻ bị cận thị bẩm sinh. Một số trẻ trước đó mắt chính thị hoặc viễn thị sẽ trở thành cận thị. Tỉ lệ cận thị bắt đầu tăng ở khoảng 6 tuổi.
·        Cận thị khởi phát ở thiếu niên xuất hiện ở trẻ từ 7 đến 16 tuổi, chủ yếu do sự phát triển trục nhãn cầu (NC). Những yếu tố nguy cơ bao gồm lác trong, loạn thị ngược, đẻ non, tiền sử gia đình và mắt nhìn gần nhiều. Lứa tuổi có tỉ lệ cận thị tăng nhiều nhất ở con gái là 9-10 tuổi, ở con trai là 11-12 tuổi. Cận thị xuất hiện càng sớm thì tiến triển càng nhanh, trung bình mỗi năm có thể tăng từ 0,5-0,8D. Đối với phần lớn trẻ em, cận thị ngừng tiến triển ở tuổi 16-17. Khoảng 75% thanh thiếu niên ổn định tật khúc xạ. Những người không ổn định thì khúc xạ tiếp tục tăng cho đến lứa tuổi 20-30 tuổi.
·        Cận thị khởi phát ở người lớn xuất hiện ở khoảng 20 tuổi. Công việc nhìn gần nhiều là một yếu tố nguy cơ.
1, Cận thị đơn thuần.
     Độ cận thị dưới 6D và thường không có tổn thương ở đáy mắt. Loại cận thị này bắt đầu ở tuổi đi học: 6-18 tuổi. Cận thị cứ tiếp tục phát triển trong nhiều năm, đến một mức độ nào đó thì ngừng.
       Nói cận thị học đường là có ý nói cận thị phát sinh trong tuổi đang đi học, là tuổi phát triển của các em, mà không có nghĩa học đường là nguyên nhân của cận thị.
 
     Cận thị biểu hiện chủ yếu bằng thị lực giảm khi nhìn xa, còn nhìn gần vẫn bình thường. Một người cận thị cảm thấy không nhìn rõ chữ trên bảng, đi xem phim nhìn hình ảnh rất mờ, khám mắt thấy thị lực nhìn xa giảm sút. Muốn nhìn rõ hơn, người cận thị luôn luôn nheo mắt.
 
      Nguyên tắc điều chỉnh cận thị bằng kính: Kính cầu phân kỳ ( kính -) với số kính thấp nhất, thích hợp, cho thị lực cao nhất.
 
      Hai câu hỏi thường được đặt ra:
-         Không mang kính có làm cận thị nặng thêm không?
-         Luôn mang kính có làm cận thị nặng thêm không?
     Vậy thế nào là đúng?
     Cận thị có nặng thêm khi không mang kính?
     Rõ ràng là không. Chúng tôi đã theo dõi nhiều trường hợp mang kính thường xuyên, nhưng không hề làm ngừng quá trình phát triển của cận thị và ngược lại, nhũng trường hợp khác không đeo kính, nhưng cận thị vẫn ổn định. Chỉ khi nào dùng kính không thích hợp thì khi bỏ kính, mắt sẽ có cảm giác như nặng lên.
     Tóm lại, kính không có tác dụng gì đối với sự phát triển của cận thị. Nhưng kính lại rất cần thiết cho sự phát triển hài hòa của thị lực 2 mắt và sự phối hợp động tác điều tiết – quy tụ. Nó giúp người cận thị học tập, sinh hoạt dễ dàng, thoải mái hơn. Bởi vậy, rất nên và phải dùng kính đối với mắt cận thị, nhưng không nên đeo thường xuyên. Đối với trẻ em, chỉ cần đeo kính trong lớp học để dễ dàng nhìn bảng và khi nhìn gần là lúc tập luyện cho động tác phối hợp giữa điều tiết và quy tụ. Đối với người lớn thì phải xét đến công việc cụ thể của từng người mà sử dụng kính thích hợp. Một điều phải hết sức chú ý là không được đeo kính quá số, vì như vậy sẽ gây ra một sự co kéo thường xuyên của cơ thể mi để trung hòa phần kính quá số, sẽ gây mỏi mắt, nhức đầu.
    
     Đề phòng cận thị phát triển.
     Mọi phương pháp đều nhằm làm cho cận thị ổn định.
     Muốn vậy, trước nhất phải để cho mắt hoạt động trong những điều kiện tốt nhất.
     Dùng kính đúng, thích hợp sẽ làm mắt bớt sự cố gắng và mệt mỏi, tăng thêm độ tinh của mắt và đảm bảo cho mắt hoạt động dẻo dai.
     Thiếu những điều kiện vệ sinh (ánh sáng kém, cách ngồi đọc, viết sai lệch, làm việc quá dài) đều có ảnh hưởng xấu đến mắt cận. Cần bắt buộc trẻ em theo đúng những điều kiện vệ sinh mắt.
2, Cận thị bệnh
            Cận thị bệnh thường từ 7D trở lên, có khi tới 20-30D và nhất là có tổn hại ở đáy mắt. Loại cận thị này chiếm tỷ lệ 1-4%, chia 2 hình hình yhái:
-         Hình thái di truyền, hay gặp.
-         Hình thái liên quan đến những bệnh như Glocom, viêm giác mạc do giang mai.
      Cận thị bệnh tiến triển theo từng đợt cấp diễn xen giữa những giai đoạn dài ổn định. Khi bệnh nặng lên nhanh chóng, người ta gọi là cận thị ác tính.
     Thị lực giảm dần và càng ngày càng khó điều chỉnh bằng kính. Các chức năng khác của mắt cũng suy giảm rất sớm; thị trường của mắt bị suy giảm rất nhiều, mắt thích nghi trong tối rất kém. Ở đáy mắt có nhiều đám thoái hóa hắc võng mạc.
 
     Về biến chứng thì thường gặp nhất và khốc liệt nhất là bong võng mạc, nếu không xử trí kịp thời và đúng thì sẽ mù vĩnh viễn. Một số biến chứng khác như thoái hóa dịch kính , võng mạc, thoái hóa hoàng điểm. Một điều cần hết sức lưu ý là bệnh Glocom phát triển ở trên những mắt này dễ bị bỏ qua vì sự mềm giãn của củng mạc do cận thị làm cho nhãn áp như không cao, đến khi mắt mù mà vẫn tưởng nguyên nhân chỉ là cận thị.
     Có 2 đặc điểm nổi bật của mắt cận thị bệnh là nhãn cầu dài ra và bị giãn phình (củng mạc bị giãn mỏng).
     
     Điều trị cận thị bệnh bằng kính
     Đeo kính hết sức cần thiết đối với cận thị bệnh.
     Phải đeo kính thường xuyên
     Để hạn chế mức độ phát triển của cận thị bệnh, từ trước đến nay người ta đã dùng nhiều cách: Vitamin A, E nhằm phục hồi lại tổ chức củng mạc, thuốc giãn mạch với mục đích tăng cường máu nuôi dưỡng hắc mạc …, nhưng hầu như không mang lại kết quả rõ rêt, cụ thể.
 
     Đề phòng biến chứng
     Khi đã có nhiều tổn hại ở đáy mắt, đục dịch kính hoặc chức năng thị giác giảm sút nhiều thì điều cần thiết là giảm bớt cường độ làm việc cảu mắt, tránh mọi kích thích, tránh ánh sáng mạnh, gío, bụi. Cần hết sức tránh những việc làm gây nhức đầu, lao động nặng, thể thao quá sức, uống rượu, tránh bị táo bón.
     Nên đi khám định kỳ. Nếu có điều gì nghi ngại, nên đi khám kịp thời.
 
Điều trị cận thị
 
·        -  Thường đeo kính gọng
·      -       Kính áp tròng
·        - Phẫu thuật Lasik hiện nay an toàn, hiệu quả nhất trong các phương pháp PT để điều trị cận thị (so với PRK, rút ngắn củng mạc, rạch giác mạc hình nan hoa hiện ko dùng).
 
Ths.BS. Phạm Thị Việt Nga
Cập nhật ngày Thứ ba, 09 Tháng 12 2014 07:51
 
Joomlart